Hỏi: Hành vi loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính sẽ bị xử phạt như thế nào?

30/12/2020

Chi tiết câu hỏi: Gần nhà tôi có gia đình đã sinh 3 con gái. Gần đây, người vợ đã mang thai lần thứ 4 nhưng vẫn là con gái. Khi biết được thông tin, người chồng nhất quyết ép vợ bỏ thai nhi với mục đích để khi nào thai nhi là con trai thì mới để sinh. Tôi xin hỏi, hành động của người chồng như vậy có phải là đã vi phạm hành vi loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính hay không và hành vi này sẽ bị xử phạt như thế nào?

Nguyễn Thị Hạnh - Bình Xuyên

 

Trả lời: Theo quy định tại Điều 100, Nghị định 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế thì hành vi loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính sẽ bị xử phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính của người mang thai mà không bị ép buộc phải loại bỏ thai nhi.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi dụ dỗ, lôi kéo người mang thai loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.

3. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần để ép buộc người mang thai loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực để ép buộc người mang thai phải loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.

5. Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Cung cấp hóa chất, thuốc để loại bỏ thai nhi mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính;

b) Chỉ định hoặc hướng dẫn sử dụng hóa chất, thuốc hoặc các biện pháp khác để loại bỏ thai nhi mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.

6. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.

7. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi quy định tại khoản 5 Điều này;

b) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn từ 06 tháng đến 12 tháng đối với hành vi quy định tại khoản 6 Điều này;

c) Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược hoặc đình chỉ hoạt động kinh doanh đối với cơ sở có hoạt động dược không vì mục đích thương mại trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 5 Điều này.

 

Các tin đã đưa ngày: